Ngày 30 tháng 06 năm 2011

Phượng vĩ

Phượng hay phượng vĩ, phượng vỹ, xoan tây, điệp tây hoặc hoa nắng, là một loài thực vật có hoa sinh sống ở vùng nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới. Tên thông dụng trong tiếng Anh là: Flamboyant, Royal poincianaMohur tree. Tên "phượng vĩ" là chữ ghép Hán Việt - "phượng vỹ" có nghĩa là đuôi của con chim phượng. Đây có thể là một hình thức đặt tên gọi theo cảm xúc vì các lá phượng vỹ nhất là các lá non trông giống như hình vẽ đuôi của loài chim phượng. Phượng vĩ nở hoa từ khoảng tháng 4 đến tháng 6, tùy theo khu vực.



Tán hoa màu đỏ/da cam rực rỡ của cây phượng vĩ cũng như tàn lá màu xanh lục sáng làm cho ta dễ nhận diện cây này.

Phượng vĩ có nguồn gốc từ Madagascar, tại đó người ta tìm thấy nó trong các cánh rừng ở miền tây Malagasy. Ngoài giá trị là cây cảnh, nó còn có tác dụng như một loài cây tạo bóng râm trong điều kiện nhiệt đới, do thông thường nó có thể cao tới một độ cao vừa phải (khoảng 5 m, mặc dù đôi khi có thể cao tới 12 m) nhưng có tán lá tỏa rộng và các tán lá dày dặc của nó tạo ra những bóng mát.

Các hoa của phượng vĩ lớn, với 4 cánh hoa tỏa rộng màu đỏ tươi hay đỏ hơi cam, dài tới 8 cm, còn cánh hoa thứ năm mọc thẳng, cánh hoa này lớn hơn một chút so với 4 cánh kia và lốm đốm màu trắng/vàng hoặc cam/vàng (cũng có khi trắng/đỏ). Thứ flavida nguồn gốc tự nhiên có hoa màu vàng (kim phượng). Quả là loại quả đậu có màu nâu sẫm khi chín, dài tới 60 cm và rộng khoảng 5 cm; tuy nhiên, các hạt riêng rẽ lại nhỏ và cân nặng trung bình chỉ khoảng 0,4 g, hạt to cỡ hai ngón tay út, hạt ăn rất bùi và ngon. Các lá phức có bề ngoài giống như lông chim và có màu lục sáng, nhạt đặc trưng. Nó là loại lá phức lông chim kép: Mỗi lá dài khoảng 30-50 cm và có từ 20 đến 40 cặp lá chét sơ cấp hay lá chét lông chim lớn, và mỗi lá chét lông chim lớn lại được chia tiếp thành 10-20 cặp lá chét thứ cấp hay lá chét con. Phượng vĩ cần khí hậu nhiệt đới hay cận nhiệt đới để phát triển tốt, nhưng nó có thể chịu được các điều kiện khô hạn và đất mặn.


Tại Việt Nam, phượng vĩ là biểu tượng gắn liền với tuổi học trò, do mùa nở hoa của nó trùng với thời điểm kết thúc năm học, mùa chia tay của nhiều thế hệ học trò. Do vậy, nó gắn liền với nhiều kỷ niệm buồn vui của tuổi học trò, và vì thế người ta gắn cho nó tên gọi "hoa học trò". Thành phố Hải Phòng là khu vực trồng rất nhiều phượng vĩ, vì thế thành phố này còn được gọi một cách văn chương là "thành phố Hoa Phượng Đỏ". Nhà thơ Thanh Tùng có bài thơ Thời hoa đỏ đã được nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc thành bài hát cùng tên, viết về những kỷ niệm của tuổi trẻ với mùa hoa phượng vĩ.


[Tài liệu tham khảo: Wikipedia]

Ngày 29 tháng 06 năm 2011

Đúc lư đồng ở xã Diên Thủy - Diên Khánh

Một trong số các làng nghề truyền thống ở Khánh Hòa, nơi những năm gần đây được khá nhiều du khách chú ý và thường xuyên đến tham quan là Làng nghề đúc đồng Diên Khánh, một làng nghề nằm ở thôn Phú Lộc Tây-thị trấn Diên Khánh, nơi cách Nha Trang chỉ hơn 10km.

Không ai còn nhớ rõ Làng nghề đúc đồng Diên Khánh được ra đời chính xác vào ngày, tháng, năm nào, nhưng theo các cụ già lớn tuổi thì đây là làng nghề đã có từ hơn 100 năm nay. Với đôi bàn tay khéo léo của mình, hết thế hệ này đến thế hệ khác nối tiếp nhau, những người thợ ở làng nghề này đã cho ra đời những sản phẩm bằng đồng rất tinh xảo, có giá trị nghệ thuật cao với nhiều kiểu dáng độc đáo.



Để có một sản phẩm, người thợ đúc đồng phải trải qua công đoạn, gồm: làm khuôn đúc, nấu đồng và rót đồng vào khuôn.

Nguyên liệu làm khuôn là đất sét, giấy bản, vôi... có khi trộn thêm gạch chịu lửa đã được nghiền kỹ. Đất sét cũng được rây, sàng thật nhỏ, thật mịn. Đó là đất làm ngoài khuôn, đất lót phía bên trong khuôn cũng phải chọn và làm rất kỹ để sản phẩm không xuất hiện tì vết khi đồng được đổ vào. Làm xong, khuôn được đem nung, trong quá trình nung, người ta luôn giĩư lửa cho đều, không để khuôn sống quá hay nung quá già.

Khuôn đúc được làm bằng đất sét...

...có khi trộn thêm gạch chịu lửa đã được nghiền kỹ


Nấu đồng cũng là việc rất cần sự kỹ lưỡng, phải xem nước đồng đã chảy đều chưa, vừa độ chưa và tính toán sao cho nấu vừa đủ để đúc sản phẩm, không thừa không thiếu.

Khi rót đồng vào khuôn, người thợ phải chú ý rót liên tục, không ngừng tay, không cho mồ hôi hay bất cứ thứ gì rơi vào, có như thế, sản phẩm làm ra mới có độ bóng, không có tì vết hoặc những đường chắp nối.





Ngày xưa, Làng nghề đúc đồng Diên Khánh rất hưng thịnh, nhưng sau đó do chiến tranh và do không có nơi tiêu thụ nên một số gia đình sống bằng nghề chuyên đúc đồng phải chuyển sang nghề khác. Mấy năm gần đây, theo nhu cầu thị trường, nghề đúc đồng đã phát triển trở lại. Hiện nay, ngoài các sản phẩm như chân đèn, lư hương cùng nhiều sản phẩm khác, đủ kích cỡ để phục vụ cho việc thờ cúng, Làng nghề Diên Khánh đã sản xuất rất nhiều sản phẩm mang tính nghệ thuật cao để phục vụ khách du lịch.

Tham quan Làng nghề làng đúc đồng Diên Khánh, bạn sẽ có thêm nhiều kiến thức quý giá về một ngành nghề thủ công truyền thống của người Việt Nam, một ngành nghề độc đáo được lưu giữ qua nhiều thế kỷ.

Ngày 28 tháng 06 năm 2011

Cafe Cổ

Đúng như tên gọi của quán, thiết kế hoài cổ với những khung cửa sổ sắt uốn lượn và tường, sàn ốp gỗ; các vật dụng được trưng bày trong quán đa số là đồ cổ, từ xe máy, máy ảnh, máy đánh chữ... cho tới những chiếc điện thoại được chủ nhân dầy công sưu tầm.

Quán có 2 tầng, tầng trên với khung cảnh khá đẹp có thể nhìn bao quát về thành phố Đà Lạt, còn tầng dưới là sân vườn. Nằm gần bến xe Liên tỉnh Đà Lạt, tôi chỉ có dịp ghé quán khi đã sát giờ lên xe. Thôi đành hẹn lần sau nếu có dịp lên Đà Lạt sẽ ghé thăm và ngồi lâu hơn :-)

Khung cửa sổ với các chi tiết uốn lượn

Máy đánh chữ

Máy chụp ảnh Polaroid cũ

Đèn Măng-xông được treo lơ lửng trong quán

Ngày 27 tháng 06 năm 2011

Xí nghiệp Bản đồ Đà Lạt

Xí nghiệp Bản đồ Đà Lạt là một cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, vì vậy du khách không thể vào đây tham quan hoặc chụp hình. Trụ sở nằm tại số 14 đường Yersin, thành phố Đà Lạt. Cơ sở tiền thân của cơ quan này là Sở địa dư Đông Dương được thành lập ngày 5 tháng 7 năm 1894 tại Hà Nội với nhiệm vụ biên tập, vẽ và in ấn bản đồ cho Liên bang Đông Dương. Đến năm 1940, trụ sở của Sở địa dư Đông Dương được chuyền vào Gia Định. Dưới thời Việt Nam Cộng hòa, cơ quan này được chuyển thành Nha địa dư quốc gia ngày 1 tháng 4 năm 1955. Sau năm 1975, Nha địa dư quốc gia được đổi thành Xưởng in 2, trực thuộc Cục bản đồ, do Bộ tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam quản lý. Bên cạnh nhiệm vụ chính là thiết lập, biên tập, in các loại bản đồ... Xí nghiệp bản đồ Đà Lạt còn nhận in sách, báo chí, bao bì, nhãn hiệu hàng hóa.


Tòa nhà trụ sở Xí nghiệp Bản đồ Đà Lạt trên đường Yersin là một công trình tương đối đồ sộ có hình khối vuông vức với mái ngói cao, mặt tường xây gạch đá nằm gần Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt và không xa nhà ga của thành phố. Công trình được xây dựng từ năm 1939 và hoàn thành năm 1943.

Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt

Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt (trước kia là trường Grand Lycée Yersin) là kiến trúc được Hội Kiến trúc sư thế giới (UIA) công nhận là một trong số 1.000 công trình xây dựng độc đáo của thế giới trong thế kỷ 20. Trường được người Pháp thành lập năm 1927, do kiến trúc sư Moncet thiết kế và chỉ đạo xây dựng, dành cho con em người Pháp và một số gia đình người Việt giàu có. Năm 1932 trường Petit Lycée Dalat được đổi tên thành Grand Lycée de Dalat và đến năm 1935 trường có tên là Lycée Yersin để tưởng niệm bác sĩ Alexandre Yersin.


Từ năm 1970 đến năm 1975, trường có tên Trung tâm Giáo dục Hùng Vương, đào tạo học sinh tiểu học theo chưong trình Việt, đồng thời có một cơ sở Sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học đặt trong ngôi trường này.

Sau ngày giải phóng, ngày 3/9/1976, Bộ Giáo dục ký quyết định số 1784/QĐ biến Trung tâm Giáo dục Hùng Vương thành trường Cao Đẳng Sư Phạm. Ngày 6/10/1976, Chính phủ ký quyết định số 280/QĐ công nhận trường Cao Đẳng Sư Phạm Đà lạt là một trong sáu trường Cao Đẳng Sư phạm đầu tiên ở phía Nam. Trường có nhiệm vụ đào tạo giáo viên cấp 2 (Trung học cở sở) không những cho tỉnh Lâm Đồng mà còn cho cả một số tỉnh bạn như Đồng Tháp, Sông Bé...

Năm 1992, cả ba trường Sư Phạm Mầm non, Trung học sư phạm, Cao đẳng Sư phạm sát nhập thành một trường đa cấp, đa hệ và lấy tên mới: trường Cao Đẳng Sư Phạm Đà Lạt theo quyết định số 518/QĐ/UB/TC của UBND tỉnh Lâm Đồng. Từ 1993, trường Cao Đẳng Sư Phạm Đà Lạt còn được UBND tỉnh giao thêm một chức năng: bồi dưỡng cán bộ quản lý cho các trường mâm non, tiểu học và trung học cơ sở.

Hành lang có mái lượn sóng

Đặc sắc nhất của trường Cao Đẳng Sư Phạm Đà Lạt phải kể đến dãy nhà vòng cung với chiều dài phía trước 77,18m, phía sau 89,8m, gồm ba tầng lầu và 24 phòng học, cuối dãy nhà sát với nhà văn phòng là tháp chuông cao 54m nổi bật giữa không gian màu xanh bao la của ngàn thông. Gạch xây trường là gạch trần đỏ được chở từ châu Âu sang, mái được lợp bằng ngói làm từ nước Pháp. Hiện nay các tấm ngói lợp đã được thay thế do các tấm ngói cũ đã không còn sử dụng được nữa.

Dãy lớp học xây theo hình vòng cung độc đáo

Điểm nhấn của dãy nhà hình vòng cung là tháp chuông. Tháp chuông nhưng không treo chuông mà đó chỉ là biểu tượng của sự vươn lên đỉnh cao văn hóa, đó cũng là nét kiến trúc đặc sắc của vùng Morger, quê nhà Yersin tại Thụy Sĩ. Phía bên ngoài tháp chuông trước đây có một đồng hồ nhưng có lẽ đã bị tháo dỡ, du khách chỉ có thể thấy vết tích của chiếc đồng hồ lớn còn in lại trên nền gạch. Bên trên tháp chuông cũng không còn chuông do có lẽ đã bị tháo dỡ trong thời chế độ cũ.

Đứng ở trung tâm thành phố Đà Lạt, nhìn sang bên kia hồ Xuân Hương có thể nhìn thấy cái tháp chuông cao vút trên bầu trời, khi đặt chân đến đây chúng ta sẽ càng bất ngờ trước kiến trúc độc đáo của ngôi trường. Đánh giá công trình kiến trúc này, báo Đông Dương (Indochine) lúc bấy giờ đã viết: “Đó là một ngôi nhà lớn mà không ai ở Đà Lạt có thể bỏ qua”.



Có dịp tới Đà Lạt, bạn hãy dành chút ít thời gian đến ngắm vẻ đẹp của công trình kiến trúc độc đáo này, cũng là dịp để bạn tìm lại dấu ấn của nhà bác học Alexandre Yersin.

Ngày 26 tháng 06 năm 2011

Hồ Xuân Hương, Đà Lạt

Hồ Xuân Hương rộng 38ha, có độ sâu trung bình 1,5m, nằm trên độ cao 1478m, là trái tim của thành phố Đà Lạt. Thời điểm chúng tôi lưu trú tại đây, thời thiết mưa dầm dề, bầu trời u ám suốt cả ngày nên không chụp được hình nào ra trò cho Hồ Xuân Hương.

Hồ Xuân Hương với bầu trời u ám suốt cả ngày trong thời gian chúng tôi ở đây

Ngày xưa, nơi đây vốn là vùng đầm lầy mọc cỏ lác dùng để dệt chiếu và ruộng lúa của người Lạch sản xuất ven dòng suối Đạ Lạch (nay gọi là suối Cam Ly). Gần góc đường Nguyên Tử Lực- Bà Huyện Thanh Quan có một buôn của người Lạch.

Năm 1919, theo sáng kiến của công sứ Cunhac trong chương trình xây dựng Đà Lạt , kỹ sư công chánh Labbé xây dựng một đập nước từ nhà Thủy Tạ đến gần ngã tư các đường Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Thái Học, Bùi Thị Xuân, Đinh Tiên Hoàng tạo thành một hồ nước. Người Pháp gọi hồ này là Grand Lac (Hồ Lớn) để phân biệt với hồ nước ở cư xá Saint Benoit (khu Chi Lăng ngày nay) gọi là hồ Saint Benoit.

Ruộng lúa nằm trong lòng hồ, do đó người Lạch phải dời đến buôn Rơhàng Kròc (Rơhàng: buôn cũ, kròc: cam; người Pháp phiên âm là Ankroet). Đến năm 1942, khi xây dựng đập Suối Vàng, người Lạch lại phải dời đến buôn Đờng Tiang Đe (Đờng: lớn, Tiang: đuôi, đe: con chuột) ở trung tâm huyện Lạc Dương hiện nay.

Năm 1921-1922, theo lệnh của công sứ Garnier, đập nước được dâng cao và nối dài thêm.

Năm 1923, một đập thứ hai được xây dựng ở phía dưới đập đầu tiên tạo thành hai hồ nước. Cả hai đập này không có đập tràn kiên cố nên bị cơn bão dữ dội tháng 5 năm 1932 phá vỡ. Ngay sau đó, đập nước được xây dựng lại.

Năm 1934 - 1935, kỹ sư Trần Đăng Khoa thiết kế, xây dựng một đập lớn bằng đất có chiều cao 6,9m, chiều dài 50m, xi phông xả lũ và cầu giao thông dài 37,5m. Cầu thường gọi là cầu Ông Đạo vì gần văn phòng viên quản đạo.

Từ năm 1953, Grand Lac được đổi thành hồ Xuân Hương và hồ Saint Benoit thành hồ Mê Linh. Công trình hồ Xuân Hương đã trải qua nhiều lần sửa chữa vào các năm : 1947, 1953, 1979, 1984, 1996, 2011.

Sân golf xung quanh hồ

Xuất xứ tên gọi Hồ Xuân Hương là vì hồ vào mùa xuân có mùi thơm của cây cỏ xung quanh hồ hòa quyện nên một mùi hương thoang thoảng nên gọi là Hồ Xuân Hương.

Một giả thuyết khác, hồ được mang tên Xuân Hương từ năm 1953 như muốn làm sống mãi hình ảnh lãng mạn của nữ sĩ thơ Nôm nổi tiếng Việt Nam thế kỷ thứ 19: Hồ Xuân Hương.

(Tổng hợp từ Trang thông tin điện tử Lâm ĐồngWikipedia)

Nhà thờ Con Gà

Nhà thờ Chính tòa Ðà Lạt là một trong những nhà thờ công giáo ở Việt Nam có tên gọi khác là nhà thờ Con Gà vì trên đỉnh tháp chuông có hình con gà lớn. Đây là nhà thờ chính tòa của vị giám mục Giáo phận Đà Lạt, cũng là nhà thờ lớn nhất Đà Lạt, một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu và cổ xưa nhất của thành phố này do người Pháp để lại. Nhà thờ nằm trên đường Trần Phú (gần khách sạn Dalat Hotel Du Parc) thành phố Đà Lạt.



Công trình được xây dựng trong suốt 11 năm. Quá trình xây dựng được chia làm 3 đợt như sau:
  • Đợt 1: Xây dựng gian cung thánh, hậu tẩm, 2 gian cánh,hoàn tất vào ngày 30 tháng 3, 1932.
  • Đợt 2: Xây dựng 2 gian giữa và đặt chân móng cho các tháp chuông.
  • Đợt 3: Xây dựng tháp chuông chính, 2 tháp chuông phụ, cầu thang xoắn trôn ốc. Ngày 14 tháng 11, 1934, đặt thánh giá trên đỉnh tháp chuông chính. Ở đỉnh tháp có gắn một con gà bằng đồng dài 0,66m, cao 0,58m. Vào tháng 2, 1942, tổ chức nghi thức làm phép và đặt 14 chặng đàng thánh giá trong gian chính của tòa nhà.
Nhà thờ khánh thành ngày 25 tháng 1, 1942.

Dalat Hotel Du Parc

Dalat Hotel Du Parc được xây dựng vào năm 1932 bởi Chính quyền Đông Dương Pháp đến từ Sài Gòn và trở thành một phần lịch sử của thành phố Đà Lạt. Năm 1997 khách sạn bắt đầu được chỉnh sửa và tân trang mới, và điều đặc biệt là Dalat Hotel Du Parc vẫn giữ nguyên kiểu kiến trúc cổ điển thời Pháp thuộc độc đáo của riêng mình.

Mặt trước khách sạn Dalat Hotel Du Parc

Thang máy cổ của khách sạn

Cửa sổ trong một phòng khách sạn

Mặt tiền của khách sạn Dalat Hotel Du Parc

Nằm ở trung tâm cao nguyên xinh đẹp của Việt Nam, khách sạn này chỉ cách khoảng 1km để đến trung tâm chợ Đà Lạt. Dalat Hotel Du Parc có tổng cộng 144 phòng hoàn chỉnh với đồ nội thất tiện nghi, nhân viên phục vụ tận tình. Ngoài ra, khách sạn còn có quán Cafe dela Poste với kiến trúc cổ thời Pháp nằm ở phía bên kia đường phục vụ cafe và các món ăn Tây-Việt rất ngon mỗi ngày.

Cafe dela Poste

Đô thị ở Đà Lạt

Đà Lạt là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng, nằm trên cao nguyên Lâm Viên, thuộc vùng Tây Nguyên, Việt Nam, cách thành phố Nha Trang khoảng 140 km về huớng Đông. Đà Lạt mùa này trời âm u và mưa suốt ngày. Chúng tôi đã có dịp ghé thăm lại Đà Lạt vào những ngày tháng 6 vừa qua.

Từ xa xưa, vùng đất này vốn là địa bàn cư trú của những cư dân người Lạch, người Chil và người Srê thuộc dân tộc Cơ Ho. Cuối thế kỷ 19, khi tìm kiếm một địa điểm để xây dựng trạm nghỉ dưỡng dành cho người Pháp ở Đông Dương, Toàn quyền Paul Doumer đã quyết định chọn cao nguyên Lâm Viên theo đề nghị của bác sỹ Alexandre Yersin, người từng thám hiểm tới nơi đây vào năm 1893. Trong nửa đầu thế kỷ 20, từ một địa điểm hoang vu, những người Pháp đã quy hoạch và xây dựng lên một thành phố xinh đẹp với những biệt thự, công sở, khách sạn và trường học, một trung tâm du lịch và giáo dục của Đông Dương khi đó. Trải qua những khoảng thời gian thăng trầm của hai cuộc chiến tranh cùng giai đoạn khó khăn những thập niên 1970–1980, Đà Lạt ngày nay là một thành phố 206 ngàn dân, đô thị loại một trực thuộc tỉnh, giữ vai trò trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh Lâm Đồng.


Với độ cao 1.500 mét so với mực nước biển và được các dãy núi cùng quần hệ thực vật rừng bao quanh, Đà Lạt thừa hưởng một khí hậu miền núi ôn hòa và dịu mát quanh năm. Lịch sử hơn một thế kỷ cũng để lại cho thành phố một di sản kiến trúc giá trị, được ví như một bảo tàng kiến trúc châu Âu thế kỷ 20. Những tài nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú giúp Đà Lạt trở thành một trong những điểm du lịch nổi tiếng của Việt Nam, mỗi năm thu hút hàng triệu du khách tới thăm viếng và nghỉ dưỡng.


Mặc dù là một đô thị du lịch nổi tiếng, nhưng Đà Lạt lại là một thành phố thiếu vắng các địa điểm văn hóa, giải trí đa dạng. Quá trình đô thị hóa ồ ạt khiến thành phố ngày nay phải chịu nhiều hệ lụy. Nhiều cánh rừng thông dần biến mất, thay thế bởi các công trình xây dựng hoặc những vùng canh tác nông nghiệp. Do không được bảo vệ tốt, không ít danh thắng và di tích của thành phố rơi vào tình trạng hoang tàn, đổ nát. Sự phát triển thiếu quy hoạch trong những thập niên gần đây khiến kiến trúc đô thị Đà Lạt chịu nhiều biến dạng và trở nên nhem nhuốc. Trong khắp thành phố, nhiều ngôi biệt thự cùng không ít những công trình kiến trúc chịu sự tàn phá của thời gian mà không được bảo tồn chu đáo.




Địa danh Đà Lạt được bắt nguồn từ chữ Đạ Lạch, tên gọi của dòng suối Cam Ly. Khởi nguồn từ huyện Lạc Dương, con suối Cam Ly chảy qua khu vực Đà Lạt theo hướng bắc – nam, trong đó đoạn từ khoảng hồ Than Thở tới thác Cam Ly ngày nay được gọi là Đạ Lạch. Theo ngôn ngữ của người Thượng, Da hay Dak có nghĩa là nước, tên gọi Đà Lạt có nghĩa nước của người Lát, hay suối của người Lát. Trong một bài phỏng vấn đăng trên tạp chí Revue Indochine tháng 4 năm 1944, công sứ Cunhac, một trong những người tham gia xây dựng thành phố từ ngày đầu, đã nói: “Cho mãi tới những năm sau này, khung cảnh ban sơ vẫn không có gì thay đổi. Ở tại chỗ của cái hồ nước trước đó, con suối nhỏ của bộ lạc người Lát đã chảy qua và người ta đã gọi suối này là Đà Lạt”. Vào thời kỳ đầu, các bản đồ cũng như sách báo thường chỉ nói đến địa danh Dankia hay Lang Biang. Nhưng sau khi Đà Lạt được chọn làm nơi nghỉ dưỡng thay vì Dankia, và đặc biệt từ khi nơi đây trở thành một thành phố, địa danh Đà Lạt mới xuất hiện thường xuyên.

Những người có công kiến thiết thành phố còn sáng tạo một câu cách ngôn khéo léo bằng tiếng La Tinh: Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem, có nghĩa Cho người này nguồn vui, cho kẻ khác sức khỏe. Tác giả André Morval đã viết câu cách ngôn chiết tự này ở đầu một bài báo nhan đề Dalat: Cité de la Jeunesse với nội dung: “Những người khai sinh ra nơi nghỉ mát trên miền núi danh tiếng của chúng ta đã xác định một cách rất hợp lý những nét hấp dẫn và những đặc tính tốt bằng một câu cách ngôn ghép chữ đầu rất khéo léo để liền theo huy hiệu thành phố”. Năm 1937, khi xây dựng chợ Đà Lạt mới thay cho ngôi chợ cũ bằng gỗ bị cháy, người ta đã đề dòng chữ Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem trên tường đầu hồi của công trình, phía trên là huy hiệu thành phố hình tròn, tạc hình một đôi thanh niên nam nữ người dân tộc. Với khí hậu ôn hòa, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và những di sản kiến trúc Pháp phong phú, Đà Lạt còn được gọi bằng nhiều cái tên khác như “Thành phố mù sương”, “Thành phố ngàn thông”, “Thành phố ngàn hoa”, “Xứ hoa Anh Đào” hay “Tiểu Paris”.

(Nguồn tham khảo: Wikipedia)

Ngày 25 tháng 06 năm 2011

Vòng xoay Ngã Sáu Nha Trang

Ngã Sáu Nha Trang được xem như là điểm mốc trung tâm của Nha Trang để đi về các tỉnh/thành ở phía Nam. Nơi đây nổi tiếng với Nhà thờ Ngã Sáu (Nhà thờ Núi), nhà trẻ Huơng Sen, khu dân cư Núi Một, cũng như các hàng quán lề đường lâu năm như Bánh mì ngã Sáu, nước mía, chè...

Ngã Sáu nhìn về huớng đường Lê Thánh Tôn

Toàn cảnh Ngã Sáu

Nhà thờ Núi nhìn từ vòng xoay ngã Sáu

Ngày 22 tháng 06 năm 2011

[C]razy Ever After

Bộ ảnh được chụp tại Lầu Bảo Đại Nha Trang.
Link trên Flickr: http://flic.kr/s/aHsjuXLcJp







Ngày 20 tháng 06 năm 2011

Bản đồ Trường Sa được ghép từ hạt cà phê


Ý tưởng bản đồ Trường Sa ghép từ hạt cà phê ra đời vào năm 2010, bắt đầu thực hiện vào tháng 3 năm nay và được thiết kế bởi các họa sĩ Hội mỹ thuật Việt Nam. Cà phê được một doanh nghiệp kinh doanh cà phê lớn của Khánh Hòa, Công ty cổ phần cà phê Mê Trang cung cấp. Các hạt cà phê được chọn ghép bản đồ phải qua khâu chọn lựa tiêu chuẩn đặc biệt, gồm cà phê rang chín và cà phê nguyên hạt. Việc xử lý màu sắc cũng rất dày công để bảo đảm tuổi thọ của tấm bản đồ.

Tấm bản đồ như một cuốn chiếu thư của triều đình nhà Nguyễn hơn thế kỷ trước cử hải đội Bắc Hải kiêm quản Trường Sa trên nền quần đảo Trường Sa, bên ngoài trang trí trống đồng. Rộng 18 m2, nặng 600 kg, bản đồ do 200 người tham gia ghép với ý nghĩa chung tay và đồng lòng của mọi người dân Việt Nam góp sức xây dựng quần đảo Trường Sa thân yêu.

Ngày 11-6, Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã chính thức công nhận kỷ lục tấm bản đồ huyện đảo Trường Sa bằng hạt cà phê lớn nhất. Sau Festival biển 2011, tấm bản đồ này được đưa đến Phòng trưng bày tài nguyên biển quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa tại Viện Hải dương học Nha Trang.

Bé đi xem tranh nghệ thuật

Các bé ở trường tư thục Cửu Long đi xem tranh nghệ thuật ở Festival biển

Pose hình cùng cô giáo

Ngày 16 tháng 06 năm 2011

Lễ hội Cầu ngư trên biển Nha Trang

Chiều ngày 14/6/2011, tại công viên bờ biển đường Trần Phú, Nha Trang, Khánh Hòa, Ban Tổ chức Festival biển Nha Trang 2011 tổ chức phục dựng Lễ hội Cầu ngư - Nét văn hóa đặc sắc của ngư dân Khánh Hòa.




Ngư dân ở vùng biển Khánh Hòa, từ lâu đời vốn có tục thờ Ông Nam Hải - loài cá Voi, có thân hình to lớn, nhưng bản tính lại hiền hòa, thường cứu giúp ngư dân mỗi khi gặp nạn trên biển. Khi cá Voi chết, trôi dạt vào bờ thuộc địa phận của làng biển nào, thì làng biển ấy lập Lăng thờ phụng rất nghiêm cẩn, được gọi là Lăng Ông Nam Hải.

Hàng năm, cứ vào ngày Ông lụy, tức là ngày cá Voi chết, bà con ngư dân Khánh Hòa long trọng tổ chức Lễ tế Ông Nam Hải, còn gọi là Lễ hội Cầu ngư. Người dân miền biển tin rằng, tổ chức tế lễ càng chu đáo, nghi thức đầy đủ bao nhiêu, thì sẽ được Ngài ban ân đức được mùa tôm, cá, đời sống ấm no, sung túc bấy nhiêu.

Đây là nét văn hóa đặc sắc, độc đáo của ngư dân miền biển Khánh Hòa. Và việc phục dựng Lễ hội Cầu ngư, đưa vào chương trình chính thức của Festival biển Nha Trang 2011 là việc làm có ý nghĩa thiết thực, nhằm bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của ngư dân miền biển; đồng thời, qua đó, quảng bá hình ảnh Nha Trang - Khánh Hòa đến với đông đảo du khách trong và ngoài nước không chỉ về tiềm năng, thế mạnh phát triển kinh tế, du lịch… mà còn có cả những nét độc đáo, đặc trưng của văn hóa vùng biển Nha Trang - Khánh Hòa.