Chụp ảnh dạo

March 30, 2011

Nét đẹp của điệu múa dân gian Chămpa

Múa quạt


Các nghệ nhân Chăm đang chơi nhạc
Có dịp ghé thăm Tháp Bà, du khách còn được thưởng thức các điệu múa dân gian của người Chăm vẫn còn được lưu giữ cho tới ngày hôm nay.

Múa Chăm là một bộ phận quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Chăm. Múa gắn liền với các lễ hội như Rija Nưgar, Katê, Rija Praung... ở mỗi làng hay trên tháp. Đó là những dịp mà người Chăm thể hiện sự tưởng nhớ của mình đối với những người có công xây dựng đất nước, hay sự sùng bái một/một vài vị vua được thần hóa. Đi kèm với múa là những nhạc cụ dân tộc truyền thống như: trống Ginang, trống Baranưng, Ceng (chiêng), kèn Xaranai, Grong (lục lạc), đàn Kanhi... Phổ biến hơn cả là bộ ba Ginang, BaranưngXaranai, trong đó chủ đạo vẫn là Ginang, vì chúng có âm mạnh mẽ, hùng hồn rất phù hợp trong dịp lễ hội, hơn thế nữa còn phản ánh được tính cách của người Chăm. Có thể phân múa Chăm làm 2 loại: Múa dân gian và múa cung đình.

I. Múa dân gian:

Tên gọi các điệu múa Chăm cũng là tên được đặt cho điệu trống Ginang. Có thể kể vài điệu múa tiêu biểu: Biyen, Tiaung (bắt chước dáng con công, trĩ), Patra (hoàng tử), Wah gaiy (chèo thuyền), Mưmơng, Mưrai,...

Các điệu múa luôn là tâm điểm và là “tiết mục” được trông chờ nhất trong lễ hội. Những hồi trống Ginang thu hút sự chú ý của mọi người về phía người nghệ sĩ múa. Tiếp sau đó là tiếng Xaranai, tiếng Baranưng cùng lời của Ong Mưdwơn hát các bài tụng ca tương ứng. Vũ công bước ra trình diễn: cái phẩy tay, phất quạt, quất roi hay cái chuyển gót chân, khi nhanh khi chậm, khi khoan thai nhẹ nhàng, khi thì hùng hồn mạnh mẽ theo nhịp của tiếng nhạc. Người xem như bị cuốn hút theo từng động tác của người nghệ sĩ. Rồi cả khán thính giả bị kích động bởi tiếng nhạc, điệu múa mà hô vang... “ahei” (hoan hô) cổ vũ.

Múa dân gian Chăm có các loại chính:

- Múa quạt (Tamia tadik): một hình thức múa dân gian lâu đời. Dụng cụ chính là chiếc quạt: xòe ra hay xếp lại cả cặp hoặc một xòe một xếp. Có thể múa cá nhân trong các ngày lễ hay múa tập thể trong những ngày lễ hội.

- Múa đội lu (Tamia đwa buk): xuất phát điểm là Múa đội Thong hala (cỗ bồng trầu) trong lễ dâng nước thánh trên tháp, sau đó nó được kết hợp với thao tác đội lu nước trong sinh hoạt ngày thường, thành loại hình múa này. Múa Đwa buk có nhiều biến thái đẹp mắt, nhưng thao tác đặc sắc hơn cả là các cô gái thả cả hai tay, khi thì đứng lúc lại ngồi hay nghiêng mình khá thoải mái trong biểu diễn.

- Múa khăn (Tamia tanhiak): người nghệ sĩ cầm khăn, dùng cổ tay hất khăn lên lúc khoan thai, nhẹ nhàng khi mạnh mẽ, dứt khoát, theo nhịp điệu của nhạc.

- Múa dao: điệu múa với dụng cụ là Carit, con dao có độ dài khoảng 40cm, hình xoắn ốc rất đẹp. Năm 60 trở về trước, điệu múa này còn tồn tại ở một dòng họ làng Caklaing (làng Mỹ Nghiệp, tỉnh Ninh Thuận), nay đã thất truyền.

- Múa roi và múa đạp lửa (Tamia jwak apwei): các điệu múa đã tồn tại từ lâu đời có tính khái quát cao. Nhịp điệu múa khỏe khoắn tượng trưng cho sự chiến đấu quyết vượt qua khó khăn, gian khổ.

- Múa chèo thuyền (theo điệu trống Wah gaiy): dụng cụ múa là cây chèo được thay bằng cây mía trong dịp lễ. Điệu múa này mô tả những động tác chèo thuyền trên biển, luôn đi kèm với bài tụng ca: Ppo Tang Ahauk.

- Múa âm dương: đây là tên chủng loại múa do nhà biên đạo Hải Liên đặt cho dạng múa phồn thực của Chăm, gọi là Tamia Klai Kluk, dạng múa này nay đã thất truyền, hiện chỉ còn lưu giữ tại làng Bính Nghĩa, tỉnh Ninh Thuận. Người múa là nam, với khúc gỗ được đẽo như hình dương vật, múa dẫn đường, sau đó là các cặp nam nữ khác, vừa vui nhộn vừa linh thánh.

Tất cả các điệu múa này vẫn còn tồn tại trong cộng đồng Chăm như một hình thái sinh hoạt lễ hội và theo thời gian, chúng được cách điệu để đưa lên sân khấu.

II. Múa cung đình:

Đây là tên được NSND Đặng Hùng đặt cho các điệu múa ông biên đạo và dàn dựng cho Đoàn ca múa Thuận Hải thời kì ông làm trưởng đoàn. Lấy cảm hứng từ các thao tác của những tác phẩm điêu khắc Champa xưa, ông “giải mã” chúng, rút tỉa tổng hợp được 8 thế tay và 4 thế chân, bên cạnh kết hợp với vài thao tác múa dân gian để thành Múa cung đình Chăm. Các tác phẩm tiêu biểu của Đặng Hùng: Khát vọng (1985), Ước mơ (1981) và Niềm tin (1989). Sau này, NSƯT Thu Vân trên cơ sở đó cũng có tác phẩm Huyền thoại Bhagavati. Các điệu múa này nhiều lần được biểu diễn ở nước ngoài. Bên cạnh vài phản ứng tiêu cực từ phía nhân dân Chăm, như cho các con em Chăm ăn mặc theo kiểu “Apsara” lên biểu diễn tại sân khấu thôn quê, gây phản cảm; còn thì các điệu múa mới mẻ nay đều nhận được sự tán thưởng xứng đáng.

Tóm lại, Múa Chăm là một bộ phận độc đáo trong di sản văn hóa Chăm. Thời gian qua, nó được bảo tồn và phát huy đứng mực, phần nào thỏa mãn được nhu cầu sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật của quần chúng Chăm. Với sự say mê nghệ thuật và sự đầu tư nghiên cứu đúng mức, các điệu múa Chăm ngày càng được phát triển theo hướng lành mạnh. Các đoàn nghệ thuật múa hát trước đây vốn phải chật vật để duy trì sự tồn tại của mình đã tìm được con đường riêng để có thể đứng vững được trong thời đại kinh tế thị trường. Tuy nhiên, để phát huy hơn nữa kho tàng múa độc đáo này, chúng ta vẫn cần phải có những định hướng phù hợp để múa Chăm phát triển theo con đường riêng của nó, độc đáo và mang đậm sắc thái Chăm.
Người Chăm, còn gọi là người Chàm, người Chiêm Thành, người Chiêm, người Hời..., hiện cư ngụ chủ yếu tại Campuchia, Việt Nam, Malaysia, Thái Lan và Hoa Kỳ. Dân số tại Việt Nam theo điều tra dân số 1999 là 132.873 người; theo tài liệu của Ủy ban Dân tộc Chính phủ Việt Nam năm 2008 là khoảng hơn 145.000 người, xếp thứ 14 về số lượng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Tổng hợp thông tin từ Wikipedia và internet.

March 29, 2011

Phe vé


Chụp tại SVĐ 19/8, trước trận Khatoco Khánh Hòa vs ACB Hà Nội.

* Tặng anh Linh trước lúc đi Sài Gòn.

Khu chăn nuôi, thí nghiệm của viện Pasteur ở Suối Dầu

Nằm ở Suối Dầu, huyện Diên Khánh, cách trung tâm thành phố Nha Trang khoảng 20km đi về phía Tây, khu chăn nuôi, thí nghiệm của viện Pasteur nằm ở cuối con đường đất gần khu lăng mộ của bác sĩ Yersin. Tôi rất ấn tượng với những căn nhà nhỏ và dài được xây dựng để nuôi những thỏ, chuột... để thí nghiệm.

Khu nhà chính

Dãy nhà nhỏ và dài để nuôi súc vật thí nghiệm như thỏ, chuột...

Khu vườn với nhiều loại rau và cây ăn trái

March 26, 2011

Chuẩn bị



Chuẩn bị và kiểm tra tàu trước khi lên đường (đánh bắt cá)

March 25, 2011

Tường hoa



Con đường vắng với tường đầy hoa giấy và hàng cây xanh, nằm tại khu vui chơi giải trí Diamond Bay. Giá như ở Nha Trang nói riêng và các thành phố khác tại Việt Nam có nhiều con đường như vậy :-|

March 24, 2011

And I love her


Đây là Amy. Tôi mượn tên một bài hát của nhóm The Beatles để đặt tựa cho bài đăng. Không phải là ca khúc ưa thích nhất của tôi đối với nhóm, cũng chưa chắc đã là ca khúc hay nhất của The Beatles nhưng là ca khúc đầu tiên của nhóm tôi được nghe, và "ghiền" luôn kể từ hè năm lớp 7 lên lớp 8.

Tên bài đăng cũng đã nói lên tất cả! <3

Nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp






Biệt danh: Ken "bụng bự"

March 23, 2011

Giáo xứ Hòa Yên, Cam Lâm





Huyện Cam Lâm nằm ở phía nam tỉnh Khánh Hòa, phía bắc giáp thành phố Nha Trang và huyện Diên Khánh, phía nam giáp thành phố Cam Ranh, phía tây giáp huyện Khánh Vĩnh, Khánh Sơn và phía đông giáp biển Đông.

Ở Cam Lâm có rất nhiều nhà thờ, nhưng khi đi dạo một vòng, tôi thấy có lẽ Giáo xứ Hòa Yên là một trong những nhà thờ lớn nhất và có kiến trúc đẹp nhất tại khu vực này.

Cập nhật

Chúng tôi đổi tên blog và địa chỉ sang "Chụp hình dạo" http://chuphinhdao.blogspot.com cho phù hợp hơn vì ngoài Nha Trang, chúng tôi sẽ cố găng chụp lại những hình ảnh tại các quận/huyện khác trong tỉnh Khánh Hòa. Ngoài ra, sẽ đăng tải hình ảnh ở các tỉnh/thành khác khi chúng tôi có dịp ghé thăm.

March 22, 2011

Khu mộ bác sĩ Alexandre Yersin

Cổng vào

Những bậc thang dẫn lên ngôi mộ

Mộ bác sĩ Yersin

Toàn bộ khu mộ, thờ cúng

Con đường đất phía trước

Khu mộ bác sĩ Alexandre Yersin là công trình nằm trên một ngọn đồi nhỏ không tên tại khu vực Suối Dầu huyện Diên Khánh cách thành phố Nha Trang 20km.

Tháng 7-1891 – ông đến Nha Trang lần đầu tiên. Đến cuối năm 1899 ông trở lại Nha Trang thành lập viện Pasteur. Gần 50 năm sống độc thân ở Nha Trang ông đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp khoa học, nghiên cứu thành công cho việc sản xuất thuốc chữa bệnh dịch hạch. Ông sống giản dị gần gũi với nhân dân xóm Cồn nên được mọi người quý mến.

Ngày 1/3/1943, Yersin mất tại Nha Trang. Theo di chúc, khi khâm liệm người ta đặt ông nằm sấp, đầu quay về biển để ông mãi mãi ôm mảnh đất quê hương của mình. Ngôi mộ hình chữ nhật xây bằng ximăng, sơn màu xanh. Trên bề mặt có chữ Alexandre Yersin. (1863-1943).
Alexandre Émile Jean Yersin (22 tháng 9 năm 1863 tại Lavaux, bang Vaud, Thụy Sĩ - 1 tháng 3, 1943 tại Nha Trang, Việt Nam) là một bác sĩ và nhà vi khuẩn học người Pháp. Ông sinh ra ở Thụy Sĩ trong một gia đình người Pháp gốc Cevennes-Languedoc, lúc trước đã di cư sang Vaud trong thời vua Henri IV của Pháp. Lúc ấy bang Vaud còn thuộc lãnh thổ Savoie, sau giành được độc lập ngày 24 tháng 1 năm 1798 và gia nhập Thụy Sĩ ngày 14 tháng 4 năm 1803.
Ông Yersin đã khám phá ra trực khuẩn gây ra bệnh dịch hạch, sau này được đặt theo tên ông (Yersinia pestis). Xem thêm thông tin về Alexandre Yersin trên Wikipedia

March 19, 2011

Khu vực Bãi Dài





Đó là một bãi tắm mới được nhắc nhiều đến trong thời gian gần đây. Bãi Dài (huyện Cam Lâm) trở nên sôi động giống như nàng công chúa được đánh thức sau bao năm ngủ yên.

Từ khi con đường dài 21km nối liền khu vực Nam Sông Lô, Nha Trang đến sân bay Cam Ranh được đưa vào sử dụng ngày 30/4/2004, Bãi Dài trở thành một điểm du lịch hấp dẫn, đón khách trong cuộc hành trình Nam Bắc khi xe đưa họ đi trên con đường mới này.

Theo quy hoạch, trong tương lai khu vực Bãi Dài sẽ trở thành khu du lịch trọng điểm phía Nam Khánh Hòa với tổng diện tích đưa vào sử dụng 200 ha. Tại đây sẽ hình thành các khu du lịch 3, 4 sao với những Resort đẹp vào hàng bậc nhất của cả nước. Tuy nhiên, đó là tương lai xa, còn bây giờ bạn vẫn có thể đến Bãi Dài hưởng thụ một vùng biển hoang sơ, sạch và đẹp đến lạ. Bãi biển Bãi Dài uốn quanh dài trên 10km, nhìn xa tít là những hòn đảo chắn biển. Hiện nay, vẻ đẹp hoang sơ của Bãi Dài đã làm nao lòng nhiều du khách khi tình cờ đặt chân đến hay qua lời giới thiệu của bạn bè mà tìm đến.

Tính từ đầu cầu Bình Tân đến đường vào Bãi Dài, theo Đại lộ Nguyễn Tất Thành thì con đường chỉ có 10km, cách sân bay Cam Ranh 12km. Con đường vòng khi vừa đi hết đèo băng qua dãy núi Đồng Bò là một vòng tròn ôm cua. Bạn tiếp tục đi theo con đường đất hơn 200m sẽ gặp bãi biển Bãi Dài, thuộc xã Cam Hải Đông, thị xã Cam Ranh. Hiện tại, đây có khoảng 30 nhà che tạm của người dân dùng để buôn bán phục vụ du khách. Đa phần những người buôn bán tại đây là dân Cam Hải Đông, Cam Hải Tây, thường thì họ ở lại cả ngày để buôn bán, kể cả những ngày mưa gió - vì dẫu mưa, Bãi Dài vẫn có du khách tìm tới. Những căn lều che tạm cũng có ghế xếp và cung cấp đủ mọi dịch vụ ăn uống cho du khách như mực tươi, ghẹ tươi, các loại cá biển với giá rẻ hơn so với các nhà hàng trong TP Nha Trang.

Khu vực bãi biển Bãi Dài hiện đang được nhiều người tìm tới chỉ dài chừng 1km, tính từ chân núi đến eo biển kế tiếp. Bãi cát ở đây mịn và rất sạch. Những ngày biển êm, triều rút xa, biển lộ ra cả một vùng cát rộng mênh mông (vì thế nơi này có tên gọi là Bãi Dài). Bạn sẽ cảm thấy thích thú khi gặp những chú còng biển nhỏ, xinh xinh nô đùa với nhau trên cát mà chẳng hề sợ người. Bãi tắm ở đây cạn, an toàn cho du khách, kể cả những người không biết bơi. Thú tắm biển ở Bãi Dài khác với thú tắm biển ở Nha Trang, vì bạn có cảm giác như biển ở đây gần như chưa có ai đến, và trong mênh mông sóng, bạn cảm nhận được tiếng vỗ của sóng, không hề bị chi phối bởi sự ồn ào của động cơ xe cộ. Điều lý thú là sát ngay bãi cát biển, mỗi hộ buôn bán đều đào một giếng nước ngọt với độ sâu chừng 2m. Nước ngọt ở đây được sử dụng không tính tiền.

Nhưng cuộc hành trình đến Bãi Dài hôm nay còn phải là một cuộc hành trình khám phá. Bạn có thể gửi xe ở một điểm giữ xe nào đó, mang theo thức ăn, nước uống, cũng có thể mang theo cây gậy chống để leo lên những đồi cát. Quanh khu vực, cát ở đây rất trắng, một màu trắng thuần khiết tạo nên những ngọn đồi cát đẹp. Trên những đồi cát đẹp đó là rừng cây nhỏ, dây leo chằng chịt bám víu vào cát để tạo ra những thảm xanh. Loại cây được trồng nhiều ở đây chính là cây dương, dương đã tạo thành những cánh rừng lãng mạn trốn trong đồi cát trắng. Leo lên đồi cát, rồi chọn bóng mát dưới rừng dương, bạn hãy tận hưởng một ngày riêng với Bãi Dài.

[Nguồn internet]

March 18, 2011

March 17, 2011

Thành cổ Diên Khánh

Cổng thành phía Nam


Tường thành đã mọc đầy cỏ

Thành Diên Khánh là một di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng tại thị trấn Diên Khánh, Khánh Hòa, Việt Nam, là nơi đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng. Hiện nay, thành cổ Diên Khánh vẫn còn giữ được nét kiến trúc cổ ban đầu, một địa điểm hấp dẫn các du khách đến Nha Trang.
Thành Diên Khánh nằm cách thành phố Nha Trang 10 km về phía Tây, bên phải quốc lộ 1. Năm 1793, sau khi Nguyễn Huệ mất, nhà Tây Sơn suy yếu dần. Nguyễn Ánh cùng Võ Tánh và Nguyễn Văn Trương đem quân tiến đánh Diên Khánh. Sau khi đẩy lùi được nghĩa quân Tây Sơn, thấy nơi đây là địa bàn chiến lược quan trọng lâu dài, Nguyễn Ánh quyết xây dựng Diên Khánh thành căn cứ vững chắc, một vành đai phòng ngự kiên cố từ xa.
Diện tích khoảng 36.000 m², là một quần thể kiến trúc quân sự theo kiểu Vauban, một hình mẫu thành quân sự phổ biến vào thế kỷ 17 - thế kỷ 1818 ở Tây Âu. Tường thành hình lục giác nhưng không đều nhau, có chu vi 2.693 m đắp bằng đất, cao khoảng 3,5 m. Trên mỗi cạnh, tường thành lại chia thành nhiều đoạn nhỏ, uốn lượn, nên các góc thành không nhô hẳn ra mà vẫn đảm bảo quan sát được hai bên. Mặt ngoài tường thành gần như dựng đứng, mặt trong có độ thoải và được đắp thành hai bậc, tạo đường vận chuyển thuận lợi ven thành. Bên ngoài thành có hào nước sâu từ 3 đến 5 m, rộng từ 20 đến 30 m bao quanh. Ban đầu thành có 6 cửa (cổng thành), hiện nay chỉ còn 4 cửa Ðông - Tây - Tiền (phía Nam) - Hậu (phía Bắc). Đi từ hướng quốc lộ 1 có một con đường độc đạo nối của Đông và cửa Tây của thành. Con đường chạy vòng bên ngoài thành nối quốc lộ 1 và của Tây có tên là Mã Xá. Đối diện và cách cửa Tây khoảng 200 m, là Nhà thờ Hà Dừa. Nhà thờ Hà Dừa được cho là do các nhà truyền đạo xây và những năm 1800 và Gác chuông được xây thêm vào năm 1917 bởi người Pháp.
Hiện tại các cơ quan hành chính của huyện Diên Khánh được đặt trong thành Diên Khánh như Phòng Giáo Dục và Đào Tạo, Cơ quan Công An... và một sân bóng đá.
Trước đây trong thành có hoàng cung, bên trái là dinh Tuần Vũ, phía sau là dinh Án Sát, sau nữa là dinh Lãnh Binh, phía dưới là dinh Tham Tri, có nhà kho, nhà lao kiên cố. Khi xây xong, thành Diên Khánh do hoàng tử Cảnh và Bá Đa Lộc chỉ huy trấn giữ. Theo một số tư liệu cũ, bên trong thành có nhiều kiến trúc độc đáo như hoàng cung, cột cờ, dinh tuần vũ, dinh ám sát, nhà kho. Thành Diên Khánh cũng có thời kỳ trở thành tổng hành dinh của nghĩa quân Cần Vương, Khánh Hòa trong những ngày đầu chống Pháp. [Nguồn: Wikipedia]
Sơ đồ thành cổ Diên Khánh [Ảnh: Wikipedia]

March 16, 2011

Cây dầu đôi


Cho đến nay vẫn chưa ai biết cây dầu đôi bên thành cổ Diên Khánh (tỉnh Khánh Hòa) được bao nhiêu tuổi. Chỉ biết từ khi thành Diên Khánh ra đời (năm Quý Sửu - 1793) thì đã thấy cây dầu đôi này vượt trội trên một thảm rừng già.

Xưa kia, quanh vùng đất Diên Khánh toàn là những dãy rừng núi liên hoàn với rất nhiều thú dữ (cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận). Mùa xuân năm Quý Tỵ (1653) vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Tần, cai cơ Hùng Ngọc Hầu đã mở mang bờ cõi từ đèo Cả vào đến bờ bắc sông Phan Rang. Trong quá trình khai hoang, có lẽ người ta thấy cây dầu đôi cao lớn mang lại bóng mát cho mọi người, nên không ai nỡ chặt phá.

Cây dầu đôi có một gốc to, rễ cuồn cuộn như những con trăn lớn uốn lượn trên mặt đất, nhưng thân thì tách ra làm đôi nên được gọi là "dầu đôi". Mỗi thân ấy ba bốn người nắm tay ôm không giáp vòng. Nhiều người kể rằng, lúc sinh thời, mỗi lần qua trại chăn nuôi Suối Dầu làm việc, khi ngang qua cây dầu đôi bác sĩ Yersin thường xuống xe để ngả mũ như chào một bậc cao niên.

Qua bao thăng trầm, biến cố của lịch sử (từ thời Tây Sơn, Gia Long, rồi Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân cho tới nay), cây dầu đôi vẫn lặng lẽ như một người lính khổng lồ đứng gác bên thành cổ Diên Khánh. Cây đã chứng kiến bao trận chiến ác liệt giữa quân Tây Sơn với quân Nguyễn Ánh, giữa nhân dân ta với thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Thành Diên Khánh còn là nơi mà Bình Tây đại tướng Trịnh Phong dùng làm Tổng hành dinh để đánh Pháp trong phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi khởi xướng. Sau khi xử chém Trịnh Phong, giặc Pháp đã treo đầu ông trên cây dầu đôi này. Thương tiếc Trịnh Phong, nhân dân Khánh Hòa đã dựng miếu thờ ông tại cây dầu đôi và dân quanh vùng thường gọi đó là "Miếu cây đầu đôi". Miếu thờ Trịnh Phong cùng cây dầu đôi đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp Quốc gia vào năm 1991.

Qua thời gian, đại lộ 23/10 đã bao lần được mở rộng, nâng cấp nhưng cây dầu đôi vẫn sừng sững giữa đại lộ, trước cửa ngõ dẫn vào thành phố Nha Trang. Không biết do tuổi cao, hay vì bê tông, nhựa đường vây phủ mà các nhánh rễ của cây dầu đôi đã chết dần thấy rõ. Trước nguy cơ này, tỉnh Khánh Hòa cũng đã có những văn bản nhằm bảo vệ cây dầu đôi như một di tích lịch sử bất khả xâm phạm. Trước thời điểm chuẩn bị tổ chức lễ kỷ niệm Khánh Hòa 350 năm, UBND tỉnh trích 30 triệu đồng tiền ngân sách để bảo vệ cho cây dầu đôi. Nay cây đã cao tuổi, lâu ngày nên có mấy táng khô mục, không thể hồi phục được nữa. Sợ tuổi thọ của cây khó kéo dài, nên vào dịp mùa xuân năm 2004 này, Công ty môi trường đô thị Khánh Hòa đã trồng thêm một cây dầu đôi khác đứng kề bên để chuẩn bị thừa kế vị trí cho "lão" cây. Với truyền thống "yêu già quý trẻ" của người Khánh Hòa, hai cây dầu đôi này đều được nâng niu chăm sóc rất chu đáo.

Cây dầu đôi là một chứng tích lịch sử độc đáo bên thành cổ Diên Khánh, mà còn là một biểu tượng kiên trung bất khuất trước mọi kẻ thù của mảnh đất và con người Khánh Hòa.

March 15, 2011

Giáo xứ Hà Dừa





Hành lang

Trường tiểu học bên trong Giáo xứ Hà Dừa

Trẻ em
Có dịp đến Diên Khánh, sau khi qua cửa Đông và Cửa Tây thành Diên Khánh (một di tích lịch sử do tướng Võ Tánh xây dựng cách đây hơn thế kỷ để chống Tây Sơn), rồi men theo tỉnh lộ 2 về hướng tây khoảng trên 100m, qua cầu Hà Dừa, sẽ thấy một ngôi Thánh Đường cổ kính, đó là Thánh Đường giáo xứ Hà Dừa.
Giáo xứ Hà Dừa là một trong những Giáo xứ kỳ cựu, hầu hết Giáo dân đều từ những tỉnh phía Bắc như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên vào thời Chúa Nguyễn. Theo truyền thuyết trước đây hai bên bờ sông Con mọc toàn loại dừa nước nên mới có tên Hà Dừa, tức sông Dừa (?)
Thánh đường đầu tiên được xây dựng không rõ vào năm nào, nhưng chắc chắn là trước khi Võ Tánh xây thành Diên Khánh. Khoảng năm 1870, Cố Bửu (Geffroy) kiến tạo lại theo kiểu Á Đông tuy nhỏ nhưng rất đẹp, có hai cửa trên có lầu giống Cửa Thành. Thánh Đường hiện nay được xây dựng trong hai giai đoạn.

Giai đoạn 1: Đầu năm 1893 do Cố Ngoan (Saulcoy), Ngài vận động giáo dân đốn gỗ, phái ông Chức Tích đi Làng Sông và Kim Châu lấy kiểu chạm trổ và vẽ sơ đồ.

Giai đoạn 2: Cố Quới (Salomez) xây tháp chuông (1917) đóng trần nhà thờ, xây nhà xứ thường được gọi là nhà Vuông. [Nguồn: gpnt.net]

March 12, 2011

Cà phê


Cà phê sữa cho em, cà phê đen cho anh.